Thứ tư, 08/05/2013 7:56

Quan hệ của nhân quả

--Tác giả: Thích Minh Thành----

- Lời người dịch
- Cứu cánh của Phật giáo là gì?
- Nội dung và mục đích giáo dục
của Phật giáo
- Truyền thống của Phật giáo
- Người muốn học Phật phải nên
bắt đầu từ đâu?
- Quy y và thân cận một vị thầy
tốt có tương quan gì không?
- Năm thời thuyết pháp của
Đức Phật
- Năm đại khoa mục tu học
Phật pháp
- Tu học thế nào mới có thể
phóng hạ được phiền não
- Phật giáo có đề xướng ăn
chay hay không?
- Nghiệp chướng là gì?
Nó ảnh hưởng như thế nào
trong đời sống?
- Quan hệ của nhân quả
- Học Phật có lợi ích gì?
- Người học Phật có cần
phải xuất gia hay không?
- Làm thế nào mới có thể
xa rời khổ đau và được an lạc?
- Khi gặp hoàn cảnh không vui
nên xử lý như thế nào?
- Làm thế nào có thể khống
chế được vọng tưởng để
khai mở tinh thần?
- Người tại gia nên tự tu
như thế nào?
- Lúc đọc kinh phải có quy
củ và cấm kỵ gì?
- Trong đời sống khi gặp cảnh
không hòa thuận nên xử lý
thế nào?
- Sợ hải đối với vấn đề sinh tử
- Người sau khi vãng sinh đi
về đâu?
- Siêu độ biểu hiện cho ý nghĩa gì?
- Kinh địa tạng là phương pháp
tu học nhập môn
- Hiệu dụng của việc niệm Phật
- Tu học Phật pháp tốt nhất là
thâm nhập một pháp môn
- Thờ cúng tượng Phật và Bồ tát
- Dụng ý vật phẩm cúng dường
Phật, Bồ tát
- Nghi thức khai quang tượng
Phật, Bồ tát
- Pháp quán đảnh của mật tông
có ý nghĩa gì?
- Cứu cánh của việc thành Phật
là đi về đâu?
- Nhận thức về việc Phật, Bồ tát
tái thế
- Tập quán lễ lạy của xã hội
- Sự ngộ nhận sai lầm của quần
chúng về việc niệm Phật cầu sinh
thế giới Cực Lạc
- Mấy lời tâm huyết - Phật Giáo là gì?

 
 
Thế gian hay xuất thế gian, tất cả đều không lìa nhân quả. Phật pháp cũng được xây dựng từ nền cơ sở đạo lý nhân quả. Chúng ta không gieo nhân, làm sao có thể gặt hái được quả. Giả như việc học hành, quá khứ chúng ta có chăm chỉ học hành là nhân, học vị trong tương lai là quả. Chúng ta cần cù lao động là nhân, được đền bù là quả, vì thế gian hay xuất thế gian không nằm ngoài nhân quả. Nhân quả luôn vĩnh viễn, liên tục và tuần hoàn, đây là một đạo lý chúng ta cần phải biết. Biết được nhân quả là liên tục và tiếp nối tuần hoàn thì trong mọi cảnh, chúng ta tự nhiên sẽ hướng đến đoạn trừ các việc ác và tu tập các việc thiện. Vì chính mình tạo nhân thì tự gặt lấy quả, và tất nhiên, kết quả ai cũng muốn tốt đẹp như ước muốn. Do đó, chúng ta gieo nhân thiện nhất định sẽ được quả thiện, gieo nhân ác tất nhiên sẽ bị quả ác. Không thể nói gieo nhân thiện mà lại gặt quả ác hay gieo nhân ác mà được quả báo thiện, đây là đạo lý không thể có. Nhân quả là định luật tất yếu. Đời nay gieo nhân thiện, đời nay không hưởng thì đời sau hưởng, việc ác cũng như vậy. Nếu người đời nay làm thiện mà được quả báo xấu, hay ngược lại đời nay tạo việc xấu lại được may mắn hạnh phúc. Khi xét đến thời gian nhân quả, chúng ta cần phải đề cập đến ba khoảng thời gian:
 
   Thứ nhất là hiện báo: Nghĩa là người tạo nhân thiện hay ác trong đời nay, do nhân duyên thuần thục đưa đến lãnh thọ quả báo ngay trong hiện đời. Ví như trồng các loại cà, ớt hay gieo giống lúa, chỉ trong vòng một mùa hay một năm đã thu hoạch được kết quả. Cho nên cổ đức có nói: “Đời xưa trả báo thì chầy. Đời nay trả báo một giây nhãn tiền” là vậy.

    Thứ hai là sinh báo: Nghĩa là chúng ta gây nhân đời này, đời sau sẽ chịu quả báo. Quả báo này có tánh cách hơi lâu. Như chúng ta trồng cây chuối con, trồng năm nay qua sang năm chúng ta mới thu hoạch được quả. Vì thế, trong kinh có câu: “Muốn biết nhân đời trước, hãy xem quả đời nay. Muốn biết quả đời sau, hãy xem nhân đời này”. Hai câu này có thể chỉ cho sinh báo.

   Thứ ba là hậu báo: Nghĩa là chúng ta tạo nhân trong đời nay, đến ba bốn năm, trăm năm, ngàn năm hay vô lượng kiếp sau chúng ta mới thọ quả báo. Ví như chúng ta trồng những loại cây lâu năm, đến năm năm, mười năm hay vài mươi năm sau mới kết quả. Cho nên trong kinh có kệ: “Giả sử trăm ngàn kiếp trôi qua, những nghiệp chúng ta đã tạo sẽ không mất. Khi nhân duyên hội đủ, tự mình phải nhận chịu quả báo”. Vì thế, đường đi của nhân quả rất phức tạp vi tế. Ví như đời ông cha làm thiện, đời con cháu sẽ được quả thiện, hoặc đời ông cha làm ác, đời sau con cháu phải chịu quả ác. Quả báo tự ai làm thì người đó chịu, con cháu chỉ ảnh hưởng một cách gián tiếp, không phải trực tiếp. Như vậy có thể biết, mặc dù đời nay hay đời trước làm việc xấu, chúng ta cần phải nỗ lực chuyển đổi những hành động đó. Chúng ta không sửa đổi là do chúng ta không trí tuệ, chưa tin và chưa hiểu sâu sắc về đạo lý nhân quả. Nếu chúng ta có thể giữ gìn nguyên lý, nguyên tắc bình thường, có thể trì giới, tâm thanh tịnh thì trí tuệ sẽ phát sinh, khi đó, chúng ta sẽ có đủ năng lực chuyển đổi tất cả. Dù ác nghiệp có nặng đến đâu, chúng ta cũng có thể chuyển đổi được, tất cả đều tùy ở năng lực quyết tâm và trí tuệ của mỗi người.